Tiền tài & Hạnh phúc
TS. Nguyễn Chí Thuật
Trung tâm Thăm dò Giá trị Thế giới đã tiến hành trong năm 2002 cuộc điều tra dư
luận với hai câu hỏi được đưa ra: Bạn có phải là người hạnh phúc? và Bạn có
hài lòng về cuộc sống của mình?
Câu trả lời từ 77 quốc gia trên thế
giới đã cho phép Trung tâm xếp hạng các nước theo mức độ hạnh phúc của các công
dân. Kết quả là Puerto Rico đứng số 1, Mêhicô đứng thứ 2, các nước tiếp theo là
Đan Mạch, Côlumbia, Ailen, lslandia, Bắc Ailen, Mỹ xếp hạng 15, Việt Nam đứng
thứ 27, sau Đức, Pháp, Argentina. Nga chiếm một trong bốn vị trí cuối cùng
trong bảng xếp hạng, chỉ trước Amenia, Ukraina và Zimbabuê. Kể ra nhìn kỹ bức
tranh chung của thế giới hiện nay thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
mà vẫn thể hiện tâm trạng vui mừng, phấn khởi như vậy, nhiều người có thể nghĩ
đây là sự lạc quan tếu. Nhưng các chuyên gia nói rằng để tồn tại được giữa đại
dương mênh mông những thông tin không mấy tốt lành, cần phải tìm cho được trong
ban thân mình và xung quanh mình cái gì đó tích cực. Đây là mũi tiêm phòng duy
nhất nhằm chống lại loại virus bi quan và thất vọng vốn đang đe dọa xã hội loài
người hiện nay.
Kết qủa điều tra trung tâm Thăm dò
Giá trị thế giới (Mỹ) vừa nêu làm cho nhiều người vừa bị bất ngờ vừa cảm thấy
kỳ lạ. Cư dân các nước Châu Mỹ La tinh, mặc dù kinh tế phát triển chậm chạp,
nền dân chủ bị lung lay, về mức độ hạnh phúc, vẫn được xếp trên công dân của
nhiều quốc gia khá giả và có nền dân chủ ổn định. Đây quả là một thông tin hấp
dấn, bởi tại không ít quốc gia người dân từ lâu đã được nhắc đi nhắc lại một
điều là hạnh phúc của họ chỉ được đem với hai điều kiện: Dân chủ hóa và tăng
trưởng kinh tế.
Ông Ron Inglehart thuộc Đại học Anh
Arbor, giám đốc Trung tâm Thăm dò Giá trị thế giới, thường xuyên cộng tác với
các nhà xã hội học từ 80 quốc gia trên thế giới, thu hút hàng trăm ngàn người
tham dự phỏng vấn và phối hợp chặt chẽ với đối tác Châu Âu của mình là Hans -
Dieter Klingemann thuộc Đại học Tybinea nhằm mục tiêu lý giải cho được vấn đề
hạnh phúc của con người trong các xã hội khác nhau phụ thuộc vào cái gì. Nhưng
vấn đề này không đơn giản, bởi ít nhất có ba lý do:
Hạnh phúc do gen mà có
Đó là kết luận mà hai nhà khoa học Lykken
và Tellegen đã chứng minh và công bố năm 1996. Kết quả nghiên cứu của họ đã cho
thấy là những người sinh đôi từ một trứng, tức là giống hệt nhau về gen, bất kể
số phận sau đó của mỗi người ra sao - ngay cả trong trường hợp một người ăn nên
làm ra, người thừ hai lụn bại - cả hai vẫn cảm thấy hạnh phúc như nhau. Còn đối
với cặp song sinh hai trứng, nghĩa là khác nhau về gen, mọi chuyện không như
thế. Vậy là mức độ hạnh phúc hay bất hạnh của mỗi chúng ta đều được mã hóa và
chắc chắn điều này cũng liên quan đến những xã hội có nhiều đặc điểm giống nhau
về gen.
Hạnh phúc giống như cái dây cung.
Khi chúng ta gặp điều gì đó rất tốt
đẹp hoặc vô cùng khó chịu thì cũng chỉ một thời gian nào đó chúng ta cảm thấy
sung sướng hay bất hạnh, nhưng thậm chí một năm sau thời điểm sung sướng hay
bất hạnh đó, chúng ta lại trở về với mức độ hạnh phúc mà chúng ta đã được mã
hóa trong ten.
Rất khó tự mình đem lại hạnh phúc
cho mình.
Cái biến chúng ta thành những người
hạnh phúc, nếu thuộc về lý trí lành mạnh nói chung không có ảnh hưởng gì đặc
biệt đến hạnh phúc của chúng ta. Thành tựu đạt được mang đậm dấu ấn cá nhân
(như sự giàu có, trình độ học vấn, công việc, đức tin) về lâu về dài chỉ chiếm
vài phần trăm trong mức độ cảm nhận về hạnh phúc của chúng ta.
Từ những lý do nêu trên, nếu cứ chạy
theo hạnh phúc, chúng ta sẽ giống như những con thú có đuôi suốt ngày lo chạy
theo cái đuôi của mình. Thậm chí còn tồi tệ hơn, bởi có thể có được một phần
thưởng tức thời nào đó, chúng ta vĩnh viễn tham gia một cuộc chạy đua hoặc luôn
trong trạng thái lo âu. Hạnh phúc là thứ không thể giành được hoặc nhận được từ
bên ngoài. Chỉ có thể có được nó trong bản thân mình hoặc tóm được nó trong
chốc lát.
Ở đâu trên trái đất người ta cũng
nói hạnh phúc không mua được bằng tiền. Điều đó là dĩ nhiên nếu như chúng ta
nhớ đến nguyên lý hoạt động của cái dây cung. Để có thể trở thành những kẻ hạnh
phúc vì đồng tiền kiếm được, chúng ta phải được tăng lương, nhưng là thỉnh
thoảng mới tăng. Tuy nhiên kết quả các cuộc thăm dò trên thế giới lại chỉ ra
rằng những người giàu có trên hành tinh hiện nay là những người hạnh phúc, mặc
dù hạnh phúc không nhất thiết phải tăng dần cùng với sự giàu có. Thật ra xã hội
hạnh phúc nhất trong bảng xếp hạng được nói đến ở phần đầu bài viết này không
phải là hai xã hội giàu có nhất, song trong số 10 xã hội được xếp loại hạnh
phúc nhất thì 7 xã hội là các quốc gia giàu có. Vậy hạnh phúc và sự giàu có rõ
ràng có thể sánh đôi. Nhưng cũng có thể xảy ra điều ngược lại so với cái chúng
ta vẫn tưởng. Nếu nói trên thế giới này những người hạnh phúc là những người
giàu có thì điều này cũng không thật rõ ràng. Nhưng khi lnglehart lần đầu tiên
công bố kết quả thu được của Trung tâm Thăm dò Giá trị thế giới liên quan đến
hạnh phúc, nhà tâm lý học Mỹ nổi tiếng David G. Myers đã cho đăng bài viết lấy
câu nói đã đi vào lịch sử của tổng thống Bill Clinton làm nhan đề: "lt's
not the economy, Stupid" ("Đây không phải là chuyện kinh tế, ngốc
ạ").
Những người đang cải thiện được điều
kiện vật chất của mình thường cảm thấy sung sướng, song thứ nhất đây chỉ là
chuyện chốc lát (giống như cái dây cung), và thứ hai, sự sung sướng chỉ đến khi
họ thoát ra khỏi khốn khó. Nói cách khác, con người sẽ cảm thấy hạnh phúc do
đồng tiền đem lại khi họ vẫn còn cái gì để chiến đấu, để vươn tới, song chính
con người, hơn ai hết, cần phải chuẩn bị tinh thần cho khả năng là không phải
lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc chỉ vì được tăng tiền. Điều này giải thích tại
sao người Châu Âu, mặc dù đời sống kinh tế chẳng đến nỗi nào, vẫn mang trong
lòng bao nỗi thất vọng, chán chường. Hầu như tất cả dân chúng thuộc Liên minh
Châu Âu càng ngày càng cảm thấy mình bất hạnh. Trong số 10 quốc giá lần lượt
gia nhập Liên minh Châu Âu, chỉ có dân chúng Đan Mạch trước khi tham gia khối
này là hạnh phúc hơn cả, mặc dù trong tất cả các quốc gia của Liên minh đời
sống vật chất của phần lớn người dân là khá giả - ít nhất là theo cách đánh giá
của các nhà chính trị và các nhà kinh tế (thu nhập quốc dân và tuổi thọ của
người dân đều tăng ...)
Sự thụt lùi lớn nhất được ghi nhận
tại Hy Lạp. Chỉ từ năm 1981 - 1998 người dân nước này đã đánh mất một nửa cảm
giác sung sướng. Để tuột khỏi tay khoảng một phần ba niềm hạnh phúc trong cuộc
đời mình là những người Tây Ban Nha và Ai-len (mặc dù những thành tựu về kinh
tế của đất nước họ là rất rõ ràng). Dân Anh làm mất khoảng 10% thứ quý giá này.
Những người Bồ Đào Nha là dân kém hạnh phúc nhất ở Tây âu (không bao lâu 'nứa
những người Hy Lạp sẽ đuổi kịp họ).
Trong số các thành viên sáng lập
cộng đồng Châu Âu, chỉ có những người Hà Lan và ltalia là hạnh phúc hơn so với
cách đây 30 năm. Người Đức có thờ kỳ cũng hạnh phúc hơn, nhưng chỉ tính đến
thời điểm thống nhất đất nước. Ngay sau đó họ bị mất đi khoảng một nửa cảm giác
sung sướng. Trong vòng ba mươi năm qua, người Bỉ cũng đánh mất khoảng ngần ấy
cảm giác hạnh phúc. Giải thích sự gia tăng hạnh phúc ở những người ltalĩa
(giống như dân Mêhicô và puerto Ricô), có người đã viện dẫn lý do là các quốc
gia này... có nhiều ánh nắng mặt trời. Cách giải thích này sẽ có cơ sở nếu như
không có chuyện các công dân hạnh phúc nhất của Châu Âu là cư dân các quốc gia
phía Bắc. Trường hợp Hà Lan và một phần ltalia có thể là dẫn chứng cho nhận
định rằng tách chuyện thu nhập cao ra, chìa khóa mở cửa vào hạnh phúc có thể là
tự do bày tỏ suy nghĩ cá nhân.
Có người coi dân chủ hóa là nhân tố
thứ hai - sau sự giàu có - tạo điều kiện duy trì hạnh phúc. Nhưng nếu lấy nước
Nga hay Hungari ra làm ví dụ thì nhận định này lại không có cơ sở. Trong các kỳ
cải cách, mở cửa, dân chủ hóa rất được đề cao, mức độ hạnh phúc bình quân đã
giảm đi gần một nửa ở hai quốc gia này. Ngược lại với nguyên lý khẳng định rằng
những người hạnh phúc hiện đang sống tại các quốc gia giàu có và đạt trình độ
dân chủ hóa cao, vậy mà tất cả các xã hội nằm trong khối xã hội chủ nghĩa trước
đây ở Châu Âu đều không sung sướng hơn phần lớn các xã hội Châu Á hay Châu Mỹ
Latinh được coi là nghèo nhất và dân chủ không phải lúc nào cũng được bảo đảm.
Tất nhiên có thể đi tìm lý do giải
thích sự bất hạnh của các quốc gia Đông Âu đang trong quá trình đổi mới. Bởi
quả thật sự thay đổi nhiều mặt đang kéo theo những yếu tố mất tự tin, mất
phương hướng, lo sợ… là những thứ lúc nào cũng sẵn sàng lấy đi hạnh phúc của
con người. Cách giải thích này được nhiều người sử dụng, vì dễ lọt tai và vì nó
cũng có nghĩa là khi nào chúng ta quen được với một hệ thống mới, chúng ta sẽ
hạnh phúc. Nhưng khó có thể đổ tất cả mọi tội lỗi lên đầu các cuộc cải cách vốn
đòi hỏi nhiều đau đớn, vì hai quốc gia được coi là hạnh phúc nhất hành tinh
(Puerto Rico và Mêhicô) cũng đang trải qua một cuộc cải cách triệt để, còn các
xã hội kém may mắn nhất trong bảng xếp hạng không những không phải là các xã
hội đã trải qua cải cách triệt để, ngược lại tại đó mọi thay đổi diễn ra chậm
chạp, các bước đi được cân nhắc thận trọng. Có thể đặt câu hỏi: Tại sao như
vậy?
Thế giới bao giờ cũng có các lý do
khiến chúng ta không hài lòng. Phản xạ tự nhiên của con người là phản xạ nhằm
mục đích xóa bỏ những lý do này. Những người không thay đổi được thực tế thường
hay kêu ca, phàn nàn. Khi tất cả mọi người cùng kêu ca thì thể giới quanh ta
gây cho mọi người cảm giác là nó trở nên tồi tệ hơn trong thực tế và con người
lại có thêm nhiều lý do để kêu ca. Một người luôn kêu ca và thích nghe những
lời kêu ca của người khác, anh ta sẽ trở thành kẻ bất hạnh, ngay cả trong
trường hợp người đó được di truyền gen hạnh phúc rất mạnh. Bởi vì dây cung hạnh
Phúc của anh ta đã được buộc về phía ngược lại. Cùng với thời gian, những lời
kêu ca phàn nàn càng có tác động mạnh mẽ hơn. Nhu cầu kêu ca đang thay thế cho
nhu cầu hành động để thay đổi. Kêu ca trở thành một loại ma túy đối với những
người thụ động. Và vì vậy sự bất hạnh mang tính chủ quan đã biến thành sự bất
hạnh mang tính khách quan. Thế giới một khi không được cải thiện sẽ càng ngày
càng trở nên tồi tệ hơn, khủng khiếp hơn, và sự quen dần với nó đã khiến cát cơ
chế này hành chức ngay cả trong trường hợp có thể làm một điều gì đó khác hơn.
Sự chán chường, nỗi buồn của chúng
ta ngày nay cũng như sự bất hạnh chủ yếu có nguồn gốc từ bản thân chúng ta và
là sản phẩm của thế kỷ XX, không chỉ do những hoàn cảnh mà chúng ta trải qua.
Nói như giám mực Ba Lan Tischner, chúng ta bất hạnh về mặt tâm hồn hơn là thể
xác. Hạnh phúc, về lý thuyết là một định mệnh mang tính di truyền, song trong
thực tế con người lẽ ra phải tà người thợ rèn số phận mình, như tinh thần câu
tục ngữ trong tiếng Ba Lan. Một chế độ nhất định có thể dạy cho dân chúng điều
bất hạnh trong một hoàn cảnh nhất định, song cũng trong chính hoàn cảnh đó con
người có thể học được điều may mắn. Chúng ta không nhất thiết phải trở thành những
kẻ bất hạnh vĩnh cửu trên mức thực tế. Chúng ta có thể trở thành những người
hạnh phúc bất chấp gen di truyền (như đã nêu trong ví dụ về cặp song sinh một
trứng, trong ví dụ về chiếc dây cung và về ảnh hưởng yếu ớt của những thành tựu
cá nhân đạt được). Bởi vì đằng nào các gen hạnh phúc hiện tại chúng ta chưa cấy
được.