Liều thuốc giải độc cơn giận dữ - phần 1
Bhikkhu Visuddhàcàra
Nóng giận và yêu thương đều khởi
nguồn từ trái tim của chúng ta. Một điều chúng ta tin chắc rằng nóng giận là
điều xấu, chúng ta phải tuyệt đối ngăn cản chúng, khi khởi đi từ trái tim và
đầu óc của chúng ta.
Quy
luật đầu tiên
Thiền
định (Sati) là kẻ gác cổng đầu tiên và trung thành nhất chống lại cơn nóng giận
và tất cả những trạng thái không lành mạnh của đầu óc. Thế chính niệm là gì? Nó
là sự hiện diện của trí tuệ, sự nhận thức, biết được rành mạch việc đang diễn
ra đúng tại từng thời điểm. Vì thế, khi cơn giận nổi lên, bạn phải chính niệm,
bạn phải nhanh chóng nhận định trong cơ thể bạn cơn giận đang trổi dậy. Bạn
phải chỉ định, nhận biết và tự nói trong đầu: "A! tôi giận. Tôi đang
giận" hoặc bạn có thể chỉ định ngắn như "Giận, giận". Hay nếu
bạn không muốn đặt tên, bạn có thể cảm nhận đang có sự hiện diện của cơn giận
trong cơ thể.
Vì
thế khi chỉ định, cơn giận bị lôi kéo, chỉ trích ra và có sự nhận thức. Ðây là
hành động nhận biết giúp đỡ để kiểm tra cơn nóng giận. Tại sao chúng ta phải
chỉ định nó? Bởi vì khi cơn giận nổi lên, nó thường nhấn chìm chúng ta, thậm
chí trước khi chúng ta nhận biết nó. Nó làm cho đầu óc của chúng ta bị lu mờ và
làm tổn hại nhiều đến sự suy xét của chúng ta.
Nói
khác đi, giận dữ áp chế đầu óc của chúng ta. Lúc đó thật sự chúng ta không nhận
biết gì cả, suy cho cùng lúc đó tâm thái tâm thần của chúng ta đang nổi giận.
Chúng ta bị cơn giận dữ làm héo mòn, chúng ta phải đối phó và chống cự lại nó.
Nét mặt của chúng ta thay đổi và bắt đầu gắt gỏng, khoa tay múc chân hay thậm
chí chúng ta la hét những người xung quanh.
Chính
niệm kiểm soát tất cả những hiện tượng trên. Nó ngăn cản không cho cơn giận dữ
nhấn chìm chúng ta. Sự hiện diện của trí tuệ là sự cần thiết nhất cho đầu óc.
Chỉ có hành động hiểu biết giúp làm dịu cảm giác đang nung nóng. Thay vì đối
phó và chống cự lại sự giận dữ, chúng ta sẽ quan sát chúng. Chúng ta sẽ quan
sát cảm giác nóng, xúc động. Và trong khi quan sát theo dõi đó, cơn giận dữ
lắng dịu xuống đầu tiên nó sẽ yếu đi và dần dần xẹp xuống.
Hơn
nữa, khi chúng ta quan sát cơn nóng giận, chúng ta không để ý đến bất cứ người
nào, vật thể nào hay điều kiện xung quanh ta đang gây cho chúng ta nóng giận.
Thay vào đó, chúng ta theo dõi trạng thái tinh thần diễn ra trong thâm tâm
chúng ta, theo dõi sự hiện diện của cảm giác hay cảm xúc nóng giận.
Nói
một cách logic, khi sự chú tâm của chúng ta chuyển từ đề mục (Ví dụ: tác nhân
gây nên) giận dữ sang sự nhận thức tốt đẹp của chính sự nóng giận, chẳng hạn
như xúc cảm, cơn giận dữ sẽ yếu đi. Bởi vì nếu chúng ta tiếp tục tập trung vào
một vật thể (chẳng hạn như một người nào đó), chúng ta sẽ giận dữ, và thật chất
sẽ càng nóng giận hơn. Nhưng dưới ánh sáng chói chang của thiền định, giận dữ
không thể phát triển hơn nữa. Nó bị kiểm soát, và với việc tiếp tục chỉ định,
nó ngày một yếu dần và cuối cùng xẹp xuống.
Và
một điều vô cùng thú vị nữa là sự lắng dịu cơn giận dữ đến mà không cần sự đè
nén hay áp lực nào. Bạn không cần phải nghiến răng, siết chặt nắm tay hay dựa
vào ý chí, tinh thần để chiến thắng cơn giận dữ. Thay vào đó, khi bạn chỉ định,
cơn giận dữ sẽ yếu đi và biến mất. Ðặc biệt điều này có thể được thấy rõ trong
sự tập trung thiền định, khi sự tập trung của người thiền định ở mức cao độ có
thể đánh gục kẻ thù giận dữ hay trạng thái tinh thần không lành mạnh khác bằng hành
động chỉ định.
Một
lợi ích khác mà chính niệm mang đến đó là nó cho phép chúng ta ngưng và có
quyết định hay hành động đúng sự việc. Khi chúng ta chỉ định và nhận biết đang
giận dữ, chúng ta sẽ không bị cảm xúc chi phối. Chúng ta có thời gian để suy nghĩ
và quyết định hành động khôn ngoan.
Trong
khoảng thời gian như thế, chúng ta có cơ hội để luyện tập. Yoniso manasikàra mà
Ðức Phật gọi đó là sự suy ngẫm của trí tuệ hay sự xem xét thích đáng. Nếu cơn
nóng giận hoàn toàn không lắng dịu ngay từ lúc đầu chỉ định, lúc đó chúng ta có
thể luyện tập thiền Yoniso Manasikàra bằng cách suy ngẫm những bộ mặt tội lỗi
và những điều có hại khi giận dữ. Trong quá trình suy ngẫm, cơn giận dữ của
chúng ta hiển nhiên sẽ yếu đi và khi đó chúng ta càng thuyết phục được dễ dàng
cơn giận khó ưa và giận dữ dần dần sẽ lắng dịu. Một sự khao khát không muốn
nóng giận hay không muốn tiếp tục nóng giận nữa sẽ dâng lên. Và cuối cùng, cơn
giận dữ sẽ biến mất.
Vì
vậy, quy luật đầu tiên là luyện tập chính niệm. Nếu bạn có thói quen tập trung
niệm vào những thay đổi quan trọng trong trạng thái tinh thần, bạn có thể trở
thành người có thể nắm bắt được cơn giận dữ ngay lập tức khi nó nổi lên. Bạn có
thể cảm nhận và biết được rằng cơn giận dữ của bạn đang phát triển, và dựa vào
điều hiểu biết đó, bạn có thể sớm dập tắt nó từ khi mới chớm nở, hoàn toàn loại
bỏ nó ngay trước khi nó có thể thể hiện trên nét mặt hay trong những hành động
của bạn. Ðó là sự thần kỳ của chính niệm. Nó có thể hạ gục ngay lập tức trạng
thái không lành mạnh của tinh thần.
Vấn
đề kế tiếp là trong những phương cách khác nhau, chúng ta chọn lựa (đối chiếu)
như thế nào để loại bỏ cơn giận dữ. Chúng ta không thể xua đuổi nó một cách
triệt để qua chính niệm. Có rất nhiều phương pháp để chúng ta có thể lựa chọn,
đối chiếu.
Một
điều ghi nhớ là trong lúc chính niệm và suy nghĩ trong trí tuệ, không có sự đè
nén trong quá trình kiểm tra cơn giận. Một điều hiển nhiên, có khá nhiều cơn
giận dữ được dịu xuống trong quá trình chính niệm hay sự suy ngẫm. Ðối với các
nước phương Tây, đôi khi họ nghĩ rằng nếu chúng ta nén giận, thì điều đó sẽ
không tốt cho sức khỏe của chúng ta. Vì thế theo trường phái này, biểu lộ giận
dữ để thư giản sự căng thẳng là điều tốt.
Tuy
nhiên, cũng có những trường phái khác cho rằng biểu lộ cơn giận quá mức cũng sẽ
có hại. Trong dù trường hợp nào, để cho tự bản thân "bùng nổ" vì thư
giản sự căng thẳng sẽ không phù hợp. Với phương pháp của người Phật-tử , Ðức
Phật không chỉ dẫn hay cho phép làm điều đó. Ngược lại, Ngài dạy chúng ta hãy
hóa giận thành yêu, thả lỏng cơn giận dữ của chúng ta, chúng ta đang khai mở
một đầu óc đầy ô trượt hơn và đang tạo nghiệp xấu hơn. Trong lúc phải gáng
trách nhiệm cho hành động làm hại hay tổn thương người khác.
Ở
mức độ cao nhất, người ta dập tắt cơn giận và những nạn nhân đôi khi là những
thành viên vô tội trong cộng đồng. Phương pháp dành cho những người Phật tử mà
chúng tôi bàn luận ở đây không liên quan đến sự nén giận. Sự chính niệm mà đã
đề cập đến không dính líu đến sự đè nén, đó chỉ là sự nhận biết trạng thái tinh
thần đang diễn ra trong chúng ta. Nhận biết và quan sát cơn giận nguôi dần theo
hướng tự nhiên. Và ứng dụng sự suy nghĩ trong trí tuệ cũng kiểm soát cơn giận
mà không cần áp lực của sự đè nén.
Kiên
định trong lúc hành trì tâm trạng bình lặng
Nghệ
thuật điềm tĩnh và giữ tâm trạng bình yên đã hoàn toàn mai một trong thế giới
hiện đại của chúng ta. Cuộc sống bề bộn, lo toan, chú trọng đến việc tạo ra vật
chất, bừa bãi sản xuất và tiêu dùng, vẻ hấp dẫn hào nhoáng bên ngoài, quảng cáo
trên các phương tiện truyền thông đại chúng, và nhiều vấn đề khác trong cuộc
sống hiện đại đã góp phần vào sự xói mòn phẩm chất đạo đức và giá trị tinh
thần. Chúng ta cũng gây tổn hại cho tinh thần của chúng ta, chúng ta luôn bị áy
náy, lo âu, tâm trạng bối rối, băn khoăn, sợ hãi và giận dữ.
Ở
mức độ cao, chúng ta thiết lập một mức cân bằng của sự phát triển tinh thần, sự
đơn giản, sự điềm tĩnh và hoàn cảnh yên tĩnh. Ðể phát triển sự điềm tĩnh này,
kỷ luật của thiền định là không có giá trị. Áp dụng thiền định chính niệm là
phương pháp tối ưu. Tuy nhiên, nó không nằm trong phạm vi vấn đề đi sâu vào chi
tiết của thiền định chính niệm. Nó có thể được góp nhặt từ những quyển sách
khác nhau cho cùng một chủ đề, phương pháp thiền định về lòng yêu thương độ
lượng cũng là cách luyện tập tuyệt vời, mà đặc biệt có hiệu quả chống lại tất
cả những hình thức giận dữ, oán thù và hèn nhát. Nó áp dụng lý tưởng cho những
ai có tính khí giận dữ, oán thù. Cho nên, chúng tôi sẽ bày giảng phương pháp
thiền định về lòng yêu thương-độ lượng ở những chương sau.
Trong
khi đó, điều quan trọng là chúng ta cố gắng trau dồi và duy trì một tâm trạng
bình lặng và giữ được sự thư thái mọi lúc mọi nơi. Nếu chúng ta nhất quán và
quyết tâm nổ lực để làm điều này thì rất ít có khả năng chúng ta bị mất bình
tĩnh hay kích động do những cảm xúc xáo trộn gây ra, chẳng hạn như cơn giận dữ.
Vì
vậy, từ ngay bây giờ chúng ta nên cố gắng duy trì tính điềm tĩnh và kiên định
trong mọi hành vi cử chỉ của chúng ta. Chúng ta nên cố gắng nói ôn hòa và có
suy xét, không nên ồn ào kích động. Chúng ta nên dùng chính niệm để kiểm tra
tâm trạng bối rối, lo âu và kích động khi chúng nổi lên. Chúng ta nên giữ cơ
thể của chúng ta trong trạng thái bình tĩnh và ôn hòa.
Chúng
ta nên tiếp tục những hoạt động hàng ngày theo tính ôn hòa, suy xét và quyết
tâm rồi ta sẽ tiến đến chứng nghiệm được một thế giới bình an, yên tĩnh tràn
đầy thú vị. Trong lúc trạng thái ôn hòa và tĩnh lặng, bạn sẽ tìm thấy được
quyền lực và khả năng đạt được công việc và mục tiêu của bạn.
Vì
thế liều thuốc "giải độc" thứ hai là trau dồi và duy trì trạng thái
điềm tĩnh và ổn định. Thánh Abba-Dorotheus, người đã trải qua nhiều năm nghiên
cứu đã nói: Những việc gì vượt ra ngoài tầm tay của bạn, thậm chí nếu vấn đề đó
lại rất cấp bách và đòi hỏi hết sức thận trọng, tôi sẽ không tranh luận hay
không để tâm trạng bị lo âu, bối rối. Có một điều chắc chắn rằng mọi thứ bạn
làm dù lớn hay nhỏ chỉ giải quyết được 1/8 của vấn đề, trong khi đó giữ tâm
trạng không bị quấy rối, thậm chí ở tâm trạng đó ta cũng nên chấp nhận chịu
thua để đạt được mục đích thì lúc này cơ hội còn lại là 7/8.
Vì
vậy, nếu bạn bận rộn vì vài công việc nào đó và muốn làm nó một cách hoàn hảo,
cố gắng đạt được nó. Như tôi đã nói ở trên bạn chỉ giải quyết được 1/8 của vấn
đề mà thôi, và cũng lúc đó nếu bạn giữ tâm trạng của bạn không bị tổn hại thì
sẽ có cơ hội thành công 7/8. Tuy nhiên, nếu để đạt được mục đích của công việc
chắc chắn bạn sẽ làm chính bản thân bạn bị mất bình tĩnh và tổn hại hay gây ra
nhiều phiền toái khác nửa do việc tranh luận với kẻ khác, lúc này bạn sẽ làm
mất 7/8 cơ hội chỉ vì bảo vệ 1/8 lợi ích?
Hãy
xem xét ví dụ điển hình của Ðức Phật
Là
một người Phật-tử, chúng ta nên xem xét những lời khuyên và ví dụ của Ðức Phật,
Ðức Phật đã biểu lộ sự kiên nhẫn để đối phó với muôn ngàn sự khiêu khích, trêu
chọc. Ngài không bao giờ nổi giận thay vào đó Ngài luôn ban phát lòng yêu
thương đến chúng sinh, ngay cả đó là những kẻ làm hại Ngài. Ngài không hề nổi
giận khi Devadatta cố tìm mọi cách giết hại Ngài, khi Cinca cố tình buộc tội
giả Ngài đã gây ra cho nàng có thai, hoặc khi các giáo phái khác cố tình buộc
tội giả Ngài giết chết một người nữ qua đường.
Không
chỉ ở kiếp cuối cùng mà ở những tiền kiếp khi là Bồ-tát (tức là vị Phật tương
lai), Ðức Phật đã biểu lộ sự kiên nhẫn và sức chịu đựng vĩ đại. Câu chuyện
Khantivàdijàtaka (câu chuyện về nguồn gốc của những người hành nghề kiên nhẫn)
đã chứng minh tính kiên nhẫn phi thường của Bồ-tát.
Trong
câu chuyện đó kể về một ông vua Kalabu độc ác đe dọa Bồ-tát mà sau này trở
thành một người tu khổ hạnh. Vua Kalabu hỏi "Này kẻ sống ẩn dật, Ngươi
dạy cái gì?" Bồ-tát trả lời "Thưa Ngài, tôi dạy cho người ta
tính chịu đựng, kiên nhẫn".
"Thế
tính chịu đựng, kiên nhẫn là gì?"
"Ðó
là trạng thái không nóng giận khi người khác quyền rủa hay đánh đập hoặc sỉ vả
mình".
Ðức
vua nói tiếp: "Thế bây giờ tôi muốn nhìn thấy tính chịu đựng, kiên nhẫn
thật sự của ông" và ra lệnh cho người hành hình quất vào người Bồ-tát.
Người hành hình quất Bồ-tát cho đến khi da của Ngài nứt và máu tuôn chảy. Vua
Kalabu lại hỏi Bồ-tát: "Ông Tăng sĩ kia, Ngươi dạy cái gì?"
Bồ-tát
đáp lại: "Tôi dạy cho người ta tính chịu đựng, kiên nhẫn, thưa Ngài.
Nhưng Ngài lại nghĩ tính chịu đựng, kiên nhẫn của tôi chỉ ở bên ngoài. Tính
chịu đựng, kiên nhẫn của tôi không ở bên ngoài, Ngài không thể thấy được đâu vì
tính kiên nhẫn, chịu đựng của tôi đã ẩn sâu, bám chặt vào tim tôi".
Vì
tính quá ích kỷ, nhà vua ra lệnh cho người hành hình chặt tay và chân của
Bồ-tát. Người hành hình đã thi hành mệnh lệnh và thế là Bồ-tát chảy máu đầm
đìa.
Nhà
vua lại mắng Bồ-tát: "Người dạy cái gì?"
"Thưa
Ngài, tôi giảng dạy tính kiên nhẫn và chịu đựng. Nhưng tôi nghĩ sức kiên nhẫn
và chịu đựng ở trong tay và chân của tôi. Nó không chỉ tồn tại ở đó mà đã ẩn
sâu, bám chặt vào từng thới thịt, quyện vào dòng máu của tôi."
Nhà
vua lại tiếp tục ra lệnh: "cắt tai và mũi của hắn" và người
hành hình đã tuân theo. Toàn thân của Bồ-tát đẫm đầy máu. Nhà vua cũng hỏi lại
câu hỏi đó, Bồ-tát cũng trả lời y như trước "Thưa Ngài, tôi dạy tính kiên
nhẫn và sức chịu đựng. Nhưng Ngài đừng nghĩ rằng sức chịu đựng và tính kiên
nhẫn của tôi nằm ở trong tai và mũi mà nó đã ăn sâu vào tim tôi".
"Nhà
ngươi có thể ngồi xuống và hãy tán dương sức chịu đựng, kiên nhẫn của Ngươi"
và sau đó nhà cua đã đá vào Bồ-tát và ra đi trong dáng vẻ chiến thắng.
Người
tổng binh chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối đã lau chùi máu chảy trên người
của Bồ-tát, băng những vết thương ở tay, chân, lổ tai và mũi, và van xin Bồ-tát
hãy tha thứ mọi chuyện. "Hỡi ẩn sĩ, nếu Ngài có nổi giận, hãy nổi giận
riêng với Ðức vua và đừng nổi giận Vương quốc này."
Bồ-tát
đáp lại rằng "Tôi không nổi giận với ai cả, cũng không nổi giận Ðức vua
vì Người đã làm tổn thương tôi. Tôi chỉ mong muốn rằng: một ông vua trị vì lâu
dài thì cũng giống như tôi sẽ không bao giờ nổi giận". Và Bồ-tát đã
chết trong ngày hôm đó.
Người
ta nói rằng vì bản tính độc ác, nhà vua bị sét đánh và tái sinh vào cõi địa
ngục.
Vì
thế, nói đến sức kiên nhẫn và tính không khơi dậy cơn giận dữ của Bồ-tát là
nguồn cảm hứng và bài học cho tất cả chúng ta.
Vì
vậy là những người Phật-tử , nếu chúng ta muốn trở thành môn đồ của Ðức Phật,
chúng ta phải cố gắng chú ý thực hành theo những lời khuyên bảo của Ngài. Vì
ngay ở kiếp cuối cùng, Ngài vẫn mỉm cười trên những lằn cưa. Ngài nói cho dù
tên trộm có cưa hoặc cắt tay chân của chúng ta, chúng ta cũng không nên nổi
giận mà chúng ta hãy ban phát yêu thương độ lượng đến với họ và hãy cầu mong
rằng: "tất cả chúng sinh và những tên trộm này sẽ thỏa mãn và hạnh phúc".
Không
nghi ngờ gì cả, đây là lời khuyên khó nhất để thực hiện nhưng nó đã cho chúng
ta hiểu rằng: "trong lời dạy của Ðức Phật không có chổ đứng giành cho
sự giận dữ". Và chúng ta sẽ thực hành tốt để tim ta tràn ngập lòng yêu
thương và tống khứ ra tất cả những cơn sân si. Cho nên hãy nghĩ rằng lần tới
chúng ta sẽ giữ cân bằng trạng thái tốt hơn để kiểm tra tính nóng giận của
chúng ta khi nó nổi lên.
Hãy
nghĩ rằng rồi một ngày nào đó tất cả chúng ta phải chết
Cuộc
đời chỉ là cái bóng di động, một diễn viên tồi, vinh váo, cáu kỉnh những giờ
diễn của anh trên sân khấu và rồi không còn ai nhắc đến nữa. Ðó là câu chuyện
do thằng ngu kể, tràn ngập âm thanh, thác loạn, không có gì đặc sắc cả.- Shakespeare, Macbeth.
Có
những kẻ không biết rằng mọi người sống trong thế giới này rồi cũng phải chết.
Còn những kẻ biết, thay vì họ tranh cải thì giữ điềm tĩnh.-- Phật ngôn.
Ở
những vần thơ trên, Shakespeare gợi cho chúng ta nhớ rằng đôi khi trong cuộc
sống của chúng ta phải sống trong sự tổn thương, tử vong và trong những hành
động ngu xuẩn. Và qua lời nói của Ðức Phật cũng đúng lúc nhắc nhở rằng sự hiện
diện hiển nhiên khắp nơi của thần chết đang bám sát chúng ta từng bước.
Ðúng
vậy, chúng ta không phủ định đó là sự thật, trong lúc chúng ta giận dữ, kích
động, chúng ta thường quên rằng một ngày nào đó liệu chúng ta có chết không?
Nhưng khi suy nghĩ về cái chết, chúng ta thường nói với chính bản thân chúng ta
rằng: "A! Có đáng giận không? Ðời người quá ngắn mà, chẳng bao lâu tất cả
chúng ta đều phải chết. Nổi giận hay lo âu cũng chẳng đi đến đâu, chỉ làm cho
chúng ta phiền thêm mà thôi. Vì thế mình hãy làm những việc đừng mang đến phiền
muộn cho mình. Mình hãy sống an phận với chính bản thân mình và thế giới, mọi
người xung quanh. Suy cho cùng mình không động ta thì ta không động mình ...
Với
lối suy nghĩ khôn ngoan như thế bạn có thể nguôi dần và đi đến quyết định chiến
đấu lại với cơn giận dữ.
Thật
ra, ít nhất mỗi ngày một lần chúng ta ngẫm về cái chết cũng là điều tốt. Ðức
Phật dạy chúng ta maranasati (ngẫm về sự chết) để chúng ta có thể phát triển
cảm giác cấp bách trong thiền định và việc trau dồi trí tuệ. Suy ngẫm về cái
chết cũng sẽ khởi dậy, thúc đẩy chúng ta cố gắng sống một cuộc sống đầy ý nghĩa
và trách nhiệm, không phung phí thời gian nhầm mưu cầu những việc không mang
lại lợi ích. Ðối với Vipassanà, thiền sư Joseph Goldstein nói: "Nếu
chúng ta đón nhận cái chết như là vị cố vấn của chúng ta, mỗi thời khắc chúng
ta sẽ sống với quyền lực và viên mãn. Chúng ta sẽ đóng góp phần sức lực cuối
cùng cho nhân loại".
Vì
thế, hãy luôn nhớ rằng: "Cuộc sống là tạm bợ nhưng tử là điều hiển
nhiên" hoặc "Than ôi! Cuộc sống của con người thật là ngắn
ngủi, luôn bị giới hạn và phù du, tràn đầy thương đau và thống khổ".
Con người phải hiểu một cách khôn ngoan, hãy làm điều tốt và hướng đến cuộc
sống thánh thiện, bởi con người không ai thoát khỏi cái chết?.
Hết
phần một, xem tiếp phần hai
Nhung
Gia (dịch)
Theo:
Sách: Chế ngự cơn giận, trải rộng lòng từ